Quả táo dại

Quả táo dạiCanh thanh long bạch hổ, bài thuốc của y gia Vương Mạnh Anh đời Thanh, Trung Quốc: Quả trám tươi (bỏ hột) 15g đập dập, củ cải sống 250g thái nhỏ. Dùng nồi đất ninh. Lấy nước uống thay trà (có thể ăn cái). Phòng chữa bệnh đường hô hấp trên như khi bị cảm cúm.
Trà trám: Trám 3 quả, bạng đại hải (đười ươi) 3 hạt, trà xanh 5g, mật ong 20g. Trám đập dập (không hạt) cho vào nồi đất đun 15 phút rồi rót vào cốc đã để sẵn bạng, trà,, mật ong. Hãm 10-15 phút chờ nguội bớt. Uống thay trà, dùng điều trị viêm họng khô rát, khản cổ, ho khan.
Cao trám: Quả trám trắng bỏ hột, đập dập, đun nhỏ lửa 30 phút, cho đường phèn đun thành cao. Dùng chữa động kinh, pha uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 thìa con.
Các tài liệu dân gian còn dùng trám giã vắt lấy nước hoặc sắc uống liều không hạn chế để chữa hóc xương cá. Tuy nhiên cần thận trọng và nên có ý kiến của thầy thuốc chuyên khoa để tránh biến cố đáng tiếc (có tài liệu chỉ ghi hóc xương cá chứ không dùng cho trường hợp hóc xương khác).
Theo tây y, cùi trám có thành phần gồm đạm, béo, đường, một số vitamin (đáng chú ý là vitamin C), các chất khoáng như calci, phốt pho, kali, magne, sắt, kẽm…
Táo dại
Cây gỗ nhỏ, có gai to, cong. Lá xoan – ngọn không cân đối, nhọn cả hai đầu, màu lục sẫm, có hay nhẵn ở trên, màu sáng hơn và có lông, có một lớp lông mềm rất dày ở dưới, dài 2-6cm, rộng 3cm, gân 3, hướng lên. Hoa thành sim ở nách, 10mm. Quả hạch hình cầu hay hình trứng, đen kèm theo đài và vòi nhuỵ tồn tại, dài 5-6mm, 5mm, hạch có 1-2 ô, chứa 1 hạt bóng đen. Ra tháng 5-8, quả tháng 10-12.
Loài phân bố ở Ấn Độ. Malaixia, Thái Lan, Châu Úc, Campuchia, Lào, Việt Nam. Ở nước ta, thường gặp các quần hệ thứ sinh, các đồi cây bụi từ Bắc vào Nam.
Công dụng
Ở nước ta, hạt táo dại được dùng làm thuốc dị làm dễ ngủ và chữa ỉa chảy, kiết lỵ. Dân gian dù vò ra uống chữa chóng mặt, buồn nôn; lá sắc uống độc thức ăn.
Su su
Loại cây leo sống dai có rễ phình thành củ bóng, hình chân vịt, có 5 chuỳ, tua cuốn chia nhánh, Hoa nhỏ, đơn tính, cùng gốc, màu trắng hoa đực họp thành chuỳ, hoa cái đơn độc ở chỉ nhị dính nhau, bầu 1 ô, 1 noãn. Quả thịt hình lê có cạnh lồi dọc và sần sùi, to bằng nắm tay, một hạt lớn hình cầu.
Nguyên sản ở Brazin, được đem vào trồng Reunion từ năm 1836, sau đó được truyền đến nước miền nam châu âu và các nước vùng nhiệt. Ta có nhập trồng lấy quả ở vùng có khí hậu mát Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt và vùng phụ cận.