Quả mướp

Quả mướpViêm da, ghẻ ngứa: Dây lá lạc tiên với lượng vừa đủ, nấu nước tắm và rửa.
Bài thuốc an thần, có tác dụng trợ tim, ngủ được êm, dịu thần kinh: Hạt sen 12g, lá tre 10g. Cỏ mọc 15g, lá dâu 10g, lạc tiên 20g, vông nem 12g, cam thảo 6g, xương bồ 6g, táo nhân sao 10g. Đổ 600ml nước sắc còn 200ml nước, uống ngày 1 tháng.
Mướp
Quả mướp là cây thảo leo. Lá mọc so le, dạng tim, có 5-7 thuỳ có răng. Hoa đơn tính, các hoa đực tập hợp thành chùm dạng chuỳ, các hoa cái mọc đơn độc. Quả dài 25-30cm hay hơn, rộng 6-8cm, hình trụ thuôn, khi già thì khô, bên trong có nhiều xơ dài. Mùa hoa quả tháng 8-10.
Cây được trồng rất rộng rãi ở khắp nước ta lấy quả ăn. Thường thì ta ăn quả còn non, dùng nấu canh hay xào ăn. Nếu đã già quả có nhiều xơ, thì ta loại bỏ vỏ ngoài và hạt, chỉ dùng xơ mướp.
Thành phần hoá học: Quả chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%. Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do: lysine, arginin, acid aspantic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan phenylalanine, và leucin.
Hạt chứa một chất đắng là cucurbitacin B, một saponin đắng kết tinh thuỷ phân cho acid oleonolic và một sapogenin trung tính; còn có một saponin khác.
Tác dụng
Xơ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông lạc, lợi tiểu tiêu thũng.
Lá mướp có vị đắng, chua, hơi hàn; có tác dụng chỉ huyết, thanh nhiệt giải độc, hoá đàm chỉ khái.
Hạt mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận táo, sát trùng.
Dây mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thần kinh hoạt lạc, chỉ khái hoá đàm.
Rễ mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
Quả mướp có vị ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, lương huyết giải độc.
Công dụng
Quả mướp thường dùng ăn chữa được chứng sởi, khỏi lở sưng đau nhức, lại kích thích sự tiết sữa các bà mẹ đang nuôi con và tăng cường sự tuần hoàn.
Xơ mướp thường dùng trị gân cốt đau nhức, mình mẩy ở ngực sườn, bế kinh, sữa chảy thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng.
Lá dùng trị ho gà, ho, nắng nóng miệng khát ngoài trị vết thương chảy máu ghẻ lở, bệnh mụn.
Hạt dùng trị ho nhiều đờm, giun đũa, đái khó.
Dây mướp dùng trị đau lưng, ho, viêm mũi viêm nhánh khi quản.
Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của
Đơn thuốc
Ít sữa: Người ta dùng chân giò lợn nấu với mướp để ăn.
Chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông hoặc thông hành kinh được, máu xung lên tâm, dùng: xơ mướp đốt tồn tính uống vào lúc sáng, trưa, đói lòng, với rượu.