Công dụng của chuối hột

Công dụng của chuối hộtChữa ung xỉ, xỉ máu, xỉ mủ: dùng vỏ quả chuối hột, da căn, cam thảo nam, ba vị đốt thanh than tồn tính, với ít hòn phèn xanh phi, tán ra bột, hòa với dầu dừa. Súc miệng sạch, thoa thuốc vào chân răng, ngày bôi nhiều lần.
Chữa tâm nhiệt phát cuồng, dùng thân cây chuối hột, nhét giun đất (địa long) vào trong, nướng kỹ, vắt lấy nước cho uống.
Đái đường: Tìm cây chuối hột nào dạng nhú mọc đắp chuối độ 2 tác, đem chặt ngang gốc để chừng 2 tấc, lấy dao khoét một lỗ bằng cái tô, để một đêm. Sáng ngày ra lấy chén mà múc nước uống, chỉ sau một tuần là giảm bệnh.
Dâu dây
Cây leo nom tựa cây nho, cành hình trụ, nhiều khi có đốt ở trên các mấu, khi còn non có lông. Tua cuốn phân nhánh, khỏe, đối diện với các lá. Lá đơn, mọc so le, hình trái xoan dạng tim, khía răng, dài và rộng độ 5-7cm, ít khi chia 3-5 thùy; 5 gân gốc, gân giữa kèm theo 3 đôi gân bên, có lông mịn ở cả hai mặt: cuống lá mảnh. Cụm hoa ngù đối diện với các lá: hoa màu vàng nhạt. Quả mọng gần khô, màu xanh hay hơi tím, hình cầu, đường kính 0,5cm: 3-4 hạt, có 2 rãnh to sâu dọc. ra hoa tháng 7-12, có quả tháng 9-4 năm sau.
Cây mọc hoang trong rừng thứ sinh các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Thái, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Ninh…Thu hái dây quanh năm, dùng tươi hay thái ngắn phơi khô, dùng dần.
Tác dụng: Vị ngọt, đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu sưng.
Công dụng: Quả có vị se, có tác dụng lợi tiểu.
Đơn thuốc:
Đau quanh vai liền cánh tay, lưng gối đau nhức, hoặc chân gối sưng phù. Dâu dây 40g, đơn gối hạc, huyết giác, cẩu tích, mỗi vị 20g, sắc uống.
Chữa bị thương sưng đau: Giã lá dâu dây tươi chưng nóng đắp. Trong uống rễ dâu dây, dây đau xương và huyết giác, mỗi vị 20g, cùng sắc uống.
Quả thường dùng để ăn tươi, làm mát, chế rượu xirô, dùng uống bổ. Có thể dùng trị sỏi, tê thấp, thống phong. Nước hãm lá dùng trị ỉa chảy và bệnh đường tiết niệu.
Công dụng: chữa phong thấp, đau nhức xương và đắp mụn nhọt.
Dưa bở
Dưa bở là loại cây thảo hằng năm có thân mọc bò, phủ lông ngắn; tua cuốn đơn. Lá lớn, hình tim ở gốc, gần hình tròn hoặc hình thận, có 3 góc hay 3-7 thùy thường nhỏ, tròn, tù, có răng, hai mặt lá có lông mềm, trên mặt dưới cũng có lông, cuống lá có lông ngắn cứng. Hoa màu vàng; hoa đực xếp thành bó, hoa cái mọc riêng lẻ. Quả đa dạng, hình dáng và màu sắc khác nhau tùy theo từng thứ, phần nhiều có vỏ vàng sọc xanh, nhẵn bóng hoặc có lông tơ mềm; thịt màu vàng ngà, gồm chất bột mịn, bở, mềm, mùi thơm; ruột quả có nước dịch màu vàng, vị ngọt mát; màng hạt màu trắng. Hoa quả tháng 7-8.