Cây kim ngân hoa

Có tên khác là Nhẫn đông, Dây mối, tên khoa học là Lo nicera Japonica Thunb, họ Kim ngân (Caprifoliaceae).
Sử dụng hoa, cành và lá. Ngoại trừ cành lá thu hái gần như quanh năm, hoa kim ngân được thu hái vào đầu mùa hạ, lúc hoa còn nụ, sắp nở, thu hái về phơi hay sấy khô là dùng được ngay không phải chế biến gì thêm. Nhân dân đã có kinh nghiệm dùng Kim ngân hoa làm thuốc chữa mụn nhọt, rôm sẩy trẻ em, ban chẩn. Có nơi còn nấu uống thay nước chè hàng ngày. Ngày nay, kim ngân hoa hầu như là vị thuốc không thể thiếu trong những toa thuốc chữa bệnh ngoài da, bệnh dị ứng. Kim ngân hoa đã được chứng minh có tác dụng giải mẫn cảm, kháng histamin và acetylcholin, có thể làm nhẹ cơn choáng phản vệ. Nước sắc hoa Kim ngân có tác dụng ức chế mạnh đối với tụ cầu, liên cầu, các loại vi trùng lỵ trên thực nghiệm.
Dùng Kim ngân chữa tổ đỉa, nhọt độc: cành và lá Kim ngân giã sống, lấy nước cho được 1 bát, nấu còn 8 phần để uống, dùng bã đắp bên ngoài.
Đông y cho rằng Kim ngân tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Kim ngân dùng với Liên kiều, Kinh giới, Cát cánh, Đạm đậu xị, Bạc hà, Ngưu bàng tử, Đạm trúc diệp hợp thành bài “Ngân Kiều tán”, là bài thuốc cổ phương có tác dụng thanh nhiệt giải độc dùng trong các trường hợp: cảm, sốt, bị mụn, nhọt,…
Lá trầu
Còn được gọi là Trầu không, Phù lưu, Trầu lương (piper betle L.) thuộc họ tiêu piperaceae. Đây là loại lá đã được các bà dùng từ lâu để ăn trầu, đến nay lá trầu đã đi vào y học cổ truyền như vị thuốc dùng ngoài (chữa các vết loét, vết thương hở, chữa bỏng, các loại chàm) và uống trong (thường phối hợp với một số vị cây khác trong điều trị phong thấp).
Thành phần hóa học chủ yếu trong lá trầu là tinh dầu có vị thơm, tính nóng. Phòng thực nghiệm viện Đông y Hà Nội đã nghiên cứu và nhận thấy tinh dầu trong lá trầu có tính kháng khuẩn rất mạnh với nhiều chủng loại như tụ cầu, liên cầu tan huyết, phế cầu, trực trùng mủ xanh.
Lấy lá trầu không tươi từ 4 đến 8 g giã nát, ngâm nước sôi khoảng 15 đến 20 phút dùng để rửa vết loét hoặc chàm ở trẻ em rất tốt. Mỗi ngày có thể rửa từ 2 – 3 lần. Nếu dùng để rửa vết thương nhiễm trùng nên phối hợp thêm với lá Mỏ quạ (lượng tương đương) hoặc phèn chua (3 đến 4 g).
Bệnh viện Da liễu có sử dụng một toa thuốc Đông y điều trị vẩy nến, bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định:
+Sinh địa: 20g
+Thổ phục linh : 10g
+Nhân trần: 10g